Xúc cảm tháng 3

Có thể nói Đà Nẵng đẹp nhất vào quãng cuối tháng  Ba, đầu tháng Tư dương lịch. Đó là khi những cơn mưa dầm dề “thối đất thối cát”  hình như đã trùng trình, dừng lại phía bên kia đèo Hải Vân và cái chói chang của  mặt trời cũng mới dần dần len đến bãi biển Sa Huỳnh. Một chút se lạnh đủ để cảm nhận gò má ửng hồng và bàn tay ấm nồng của người yêu. Một chút nắng, một chút gió mơn man đủ để lay động đến những giác quan và đến cả tâm hồn của mỗi người. Những búp đa hồng hồng, búp bàng xanh biếc bên bờ sông Hàn gợi đến những ước vọng tràn trề của một năm mới. Có một nhạc sĩ nào đó đã đặt tên cho bài hát “Đà  Nẵng –thành phố tháng Ba” có lẽ từ cái cảm xúc khó gọi tên ấy của thành phố này.  Đà Nẵng và tháng Ba luôn song hành cùng những cảm xúc và những ký ức khó phai  mờ.

Ký ức đầu tiên của tôi về tháng Ba Đà Nẵng là khi  chúng tôi ở giữa lòng thủ đô Hà Nội. Hôm ấy là một ngày thứ bảy của năm 1975, ba tôi -một cán bộ quân đội tập kết ra Bắc- từ đâu ùa về nhà, ôm chầm, nhấc bổng tôi (một cô bé  mới 8 tuổi) lên và la lớn bằng một giọng xúc động: “Con ơi, Đà Nẵng giải phóng,  quê mình giải phóng rồi con ơi”. Tôi ngơ ngác nhìn ông, không hiểu vì sao ba tôi cười mà nước mắt cứ chảy tràn ra hai gò má.

Tháng 3 năm sau, 1976, tôi tạm biệt lũ bạn và  những tháng ngày tung tăng bên bờ Hồ Gươm Hà Nội để theo ba má về quê. Thú thật,  khi ấy tôi chưa yêu Đà Nẵng thật nhiều, mặc dù những bài văn tả cảnh quê hương  của tôi vẫn thường được điểm cao. Tôi viết về Đà Nẵng mà cứ hình dung ra những làng quê Bắc bộ mà tôi đã có dịp đi qua, bởi vì tôi không thể kể về quê mình với với hình ảnh những hố bom sâu chưa kịp lấp và cây cối thì chưa kịp mọc. Tôi chưa thể quen Đà Nẵng giống như việc tôi chưa thể quen với cái tiếng nói nặng trịch, nghe đầy  chất “mắm muối”. Rồi đến những đứa bạn cũng đem đến cho tôi cái cảm giác chúng  được sinh ra từ một tảng đá giữa biển vì chúng quá nghịch ngợm, có khi còn rất  “bặm trợn”.

Tháng 3 năm 1980, trong một buổi truyền hình, mà buổi ấy, mỗi  tuần chỉ có 3 tối thứ ba, năm, bảy mà điện thì “2 tắt một đỏ”, người ta đã phát  đi một phóng sự kỷ niệm 5 năm ngày giải phóng Quảng Nam-Đà Nẵng. Cái ti vi đen  trắng nhà tôi nói nhiều nhưng tôi chỉ nhớ được dòng nước bạc tuôn ra từ một kênh của công trình thuỷ lợi Phú Ninh, và gương mặt đầy đăm chiêu dưới gọng kính trắng của một vị lãnh đạo tỉnh hồi đó. Kỷ niệm 10 năm Đà Nẵng giải phóng, tôi bận rộn với  kỳ thi đại học sắp tới nhưng cũng cảm nhận được không khí cởi mở hơn, náo nức  hơn qua bài hát “thành phố mười mùa hoa, cây mười mùa thay lá, hoa mười mùa đậu  quả, ngọt ngào tiếng chim ca…”. Một bài hát nói về thành phố Hồ Chí Minh sau 10 năm giải phòng nhưng gần gũi, làm tôi liên tưởng như nó viết về chính Đà Nẵng của tôi vậy. Chúng tôi náo nức rủ nhau đi Trung tâm Thương  nghiệp Đà Nẵng, đi ngang qua Nhà hát Trưng Vương khi ấy mới khánh thành với một vẻ háo hức, tràn đầy niềm tự hào. Giờ đây, Nhà hát Trưng Vương đã được đập đi xây lại hoành tráng, còn Trung tâm  Thương nghiệp Đà Nẵng đang có nguy cơ bị coi là phế tích nhưng hồi ấy thì hai  công trình trên được coi là biểu tượng Đà Nẵng. Bước đường đi lên của Đà Nẵng  những năm đầu đổi mới gặp không ít những khó khăn, thử thách. Chính vì vậy, dù  hàng năm thành phố đều tổ chức sự kiện kỷ niệm Ngày giải phóng Đà Nẵng nhưng chỉ đến 15 năm sau, năm 2000, tháng ba Đà Nẵng mới trở lại trong tôi những cảm xúc tràn đầy và mới mẻ.

Tháng 3 năm 2000, kỷ niệm nửa thế kỷ thành phố  được giải phóng. Lúc này tôi đã là một cán bộ nhà nước được phân công phục vụ  ngày lễ. Tôi chạy đi chạy lại giữa Cầu Sông Hàn và Quảng trường 29/3. Cái phút  giây khi chiếc cầu từ từ quay để nối hai bên bờ, cái phút giây được bước qua  phần cầu dây văng giữa trập trùng người và hoa hôm ấy đã làm tôi ngây ngất nhiều ngày sau đó. Mà có lẽ tôi còn không thể sung sướng bằng những người dân phía bên kia sông Hàn. Họ đến từ sáng sớm cầm cờ hoa và háo hức đặt chân đi bộ sang bên  này cầu. Tôi cảm nhận được cái sung sướng khi Hoàng Sơn Trà (một cậu nhóc mới về  cơ quan) hớn hở khoe: “em là người cuối cùng đi chuyến phà cuối cùng đó chị. 3 giờ sáng nay, em phải ôm cờ và hoa sang phía bên kia cầu cho các em học sinh.  Chà! từ nay hết phà rồi. Chị thấy không, cái phà đang nằm kia trông buồn hiu”.  Lúc ấy tôi cười cười cái vẻ hí hửng trẻ con của nó nhưng ngẫm lại niềm vui ấy thật trong trẻo, hồn nhiên chứa đựng một khát khao “thay đổi Đà Nẵng thành một  đô thị hiện đại” của lớp trẻ 7x, 8x. Cái khát khao ấy lại được chủ tịch UBND  thành phố hạ quyết tâm “mỗi năm cứ đến ngày 29/3 Đà Nẵng sẽ có một đến nhiều công trình mới khánh thành”. Thế rồi nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, rồi cầu Cẩm  Lệ, tuyến đường Nguyễn Tất Thành, Phạm Văn Đồng, rồi Nhà hát Trưng Vương, Khu  Hội chợ triển lãm… đều được cắt băng khánh thành nhân dịp này. Đó là chưa kể  những kỳ tích về những con đường, những khu dân cư mới đang mọc lên hàng ngày…  Bộ mặt Đà Nẵng cứ thay đổi dần dần để mỗi lần tháng 3 lại thấy Đà Nẵng như mới hơn, lạ hơn… Bởi thế, cứ mỗi tháng ba tới người Đà Nẵng  lại có thói quen nhẩm tính và háo hức chờ xem công trình nào sẽ được khánh thành  và đưa vào sử dụng; cứ mỗi tháng ba đến, cánh nhân viên văn phòng chúng tôi lại  tất bật lo toan cho công tác chuẩn bị tiếp đón, tổ chức các hoạt động khánh  tiết… Rồi sự kiện Cuộc thi pháo hoa quốc tế tại Đà Nẵng được tổ chức vào tháng 3  hàng năm, hấp dẫn nhân dân cả nước. Khi bầu trời trong xanh của Đà Nẵng ngập tràn trong vũ hội của ánh sáng, sắc màu và âm nhạc, lòng tôi lại rộn rã cái cảm xúc  như cách đây hơn 30 năm “bay lên trong đêm pháo hoa” ngày hội toàn thắng năm  nào.

Cuốn đi theo những “cơn lốc” sự kiện, chợt lúc nào  đó tĩnh tâm nhìn lại mới thấy những việc mình làm sao mà quá nhỏ bé so với sự  vươn dậy của thành phố. Ấy vậy mà lòng tôi vẫn ngập tràn niềm tự hào khi khoe  với ba tôi về những công trình mới. Tôi biết ba tôi, và hàng trăm, hàng ngàn những người đã hy sinh và cống hiến máu xương cho mảnh đất này đang nhìn chúng tôi với nụ cười trìu mến vì chúng tôi đã không phụ công lao và sự hy sinh của họ.

(Lê Hoa – Website TP Đà  Nẵng)