Xử lý tốt mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

(ĐCSVN) – Xây dựng đất nước đi đôi với bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) đã trở thành quy luật trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Nắm vững, giải quyết và xử lý tốt mối quan hệ giữa xây dựng và BVTQ mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra là một nhiệm vụ to lớn và hết sức nặng nề, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao với những giải pháp đồng bộ, thể hiện rõ trách nhiệm chính trị của mỗi chủ thể trong hệ thống chính trị nước ta.

Trong định hướng phát triển đất nước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn”; trong đó có quan hệ “giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Vậy phải làm gì và làm như thế nào để xử lý mối quan hệ trung tâm và chủ yếu này trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng?

Đại hội XIII đã đánh giá, xem xét, thông qua nhiều văn kiện, nhưng trong từng văn kiện, cũng như từng lĩnh vực đều có sự gắn bó mật thiết với bảo vệ Tổ quốc (BVTQ). Về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, Báo cáo chính trị của Đại hội XIII nhận định tổng quát: “toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật”; mà ở đó có: “Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao”.

Việc rút ra bài học, vấn đề BVTQ cũng được Đại hội xác định trong mối quan hệ tổng thể của 5 bài học lớn. Đánh giá 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, BVTQ đúc rút trong mối quan hệ khăng khít với mọi lĩnh vực khác để có nhận định: Mục tiêu, đặc trưng, những phương hướng cơ bản và những mối quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng và BVTQ tiếp tục được bổ sung, cụ thể hóa, phát triển với những nhận thức quan trọng.

Trong hệ thống 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo thực hiện tầm nhìn, định hướng, mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, 2030, 2045, ý nghĩa, tầm quan trọng của BVTQ được Đại hội xác định trong mối quan hệ tương ứng của mọi nhiệm vụ khác, lập nên quan điểm: Gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên…

Để xử lý tốt mối quan hệ giữa xây dựng và BVTQ mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra, cần quán triệt, tập trung thực hiện một số vấn đề sau:

Một là, nắm vững tư tưởng chủ đạo của Đại hội, xác định tâm thế giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng và BVTQ. Nếu so với chủ đề của Đại hội XII, cho thấy: Tuy cùng có 5 thành tố, nhưng nội dung các thành tố nêu trong chủ đề của Đại hội XIII đã có sự kế thừa, bổ sung, phát triển hơn. BVTQ được xác định và đặt trong mối liên hệ mật thiết với 4 thành tố khác, nhưng được bổ sung, gắn với “xây dựng” để trở thành một thành tố hoàn chỉnh: “xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định”… Rõ ràng, tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt của Đại hội đã chủ trương gắn kết chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược với nhau; cả hai đều phải phấn đấu thực hiện cho được độ “vững chắc”, “giữ vững” được “môi trường hòa bình, ổn định” cho đất nước đạt đến mục tiêu mang tầm nhìn và định hướng chiến lược: “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”… Nhận thức rõ tư tưởng này, bất kỳ chủ thể lãnh đạo, quản lý nào của đất nước ta cũng phải quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện đồng thời, cụ thể có hiệu quả cả nhiệm vụ xây dựng và BVTQ theo chức năng, nhiệm vụ của ngành, lĩnh vực mà mình đảm nhiệm.

Hai là, coi trọng gắn kết chặt chẽ giữa mọi nhiệm vụ phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng, an ninh. Trong khi thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, các chủ thể quản lý nhà nước này cần quán triệt và tổ chức thực hiện chủ trương phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh mà Đại hội xác định. Cụ thể: Khi cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước phải theo hướng tập trung vào những doanh nghiệp then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh. Khi đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần phải coi trọng phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh kết hợp phục vụ dân sinh. Trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển phải kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, tài nguyên, môi trường biển; phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo; nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật trên biển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trong khi hoàn thiện, đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), phải coi trọng xử lý tốt những bất cập của cơ chế thị trường, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái.

Ba là, phát huy mạnh mẽ vai trò của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, BVTQ. Các chủ thể trên lĩnh vực này cần tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt những phương hướng, nhiệm vụ mà Đại hội XIII đã xác định, đó là: Chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ… khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và BVTQ trong giai đoạn mới, thích ứng với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tập trung cơ cấu lại các chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, BVTQ làm mục tiêu. Ưu tiên chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh trọng yếu. Gắn hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, quốc phòng và an ninh.

Bốn là, xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, con người, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ. Để đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, các tổ chức đảng, chính quyền nhà nước, các đoàn thể chính trị, xã hội từ trung ương đến cơ sở, cần ra sức quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, nhiệm vụ quan trọng như: Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên; tạo động lực cho thanh niên xung kích phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ. Kịp thời tôn vinh, khen thưởng những doanh nhân có nhiều đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng và BVTQ. Động viên cựu chiến binh, công an hưu trí phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” và Công an nhân dân Việt Nam cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và BVTQ. Có chính sách thu hút nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và BVTQ. Tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và BVTQ.

Năm là, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ.

Trong khi thực hiện các nhiệm vụ này trên các lĩnh vực của đời sống xã hội để xây dựng và phát triển đất nước, các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể của đất nước, cần lưu ý tới thực hiện nhiệm vụ BVTQ mà Đại hội XIII đã xác định. Cụ thể: Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng và BVTQ. Phát huy tính tích cực chính trị-xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia… xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân. Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân. Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cần tập trung đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động, sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo hướng thiết thực, tăng cường đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Trong khi triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, cần quan tâm đến các mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh. Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia – dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về BVTQ. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước.

Sáu là, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN hướng đến phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước giàu mạnh. Trong khi đòi hỏi mọi nhiệm vụ xây dựng đất nước phải gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ BVTQ, thì đồng thời các nhiệm vụ BVTQ cũng phải hướng đến thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của xây dựng đất nước. Ví như: Bên cạnh tập trung các nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu tối quan trọng là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, thì phải chú ý tới bảo vệ nền văn hóa và lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN.

Mặt khác, cần tập trung cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN trong cả chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, lẫn chiến lược BVTQ; trong các lĩnh quốc phòng, an ninh; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể.

Xây dựng các lực lượng vũ trang, trước hết là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân phải đạt được các tiêu chí, hạn định, hiệu quả cụ thể, để vừa bảo đảm các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, vừa bảo đảm yêu cầu về tiết kiệm chi tiêu ngân sách quốc gia. Đó là phải đạt đến độ cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, phải lưỡng dụng, vừa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ, phải vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế-xã hội. Có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương, nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh tại các khu vực phòng thủ.

Cùng với đó, phải đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, công chức, viên chức và cho toàn dân, bảo đảm phù hợp với từng đối tượng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đôi với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, BVTQ.

Xây dựng đất nước đi đôi với bảo vệ Tổ quốc đã trở thành quy luật trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Nắm vững, giải quyết và xử lý tốt mối quan hệ giữa xây dựng và BVTQ mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra là một nhiệm vụ to lớn và hết sức nặng nề, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao với những giải pháp đồng bộ và thể hiện rõ trách nhiệm chính trị của mỗi chủ thể trong hệ thống chính trị nước ta, trước hết là của mỗi tổ chức đảng, chính quyền các cấp và của từng cán bộ, đảng viên trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

Đại tá, PGS.TS Nguyễn Văn Quang, Trưởng ban, Ban nghiên cứu lý luận chính trị, Viện KHXH&NVQS